Chuỗi giá trị tích hợp là “chìa khóa” ngành nông nghiệp năm 2026
Năm 2026, ngành nông nghiệp sẽ tập trung nhóm giải pháp theo chuỗi “vùng nguyên liệu – tiêu chuẩn – chế biến – logistics – thị trường”.
Tại họp báo thường kỳ, chiều ngày 6/1, Thứ trưởng Bộ NN&MT Phùng Đức Tiến cho biết, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2025 đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước.

Về số một mặt hàng chính, xuất khẩu cà phê cả năm 2025 đạt 1,5 triệu tấn và 8,57 tỷ USD, tăng 13,1% về khối lượng và tăng 52,5% về giá trị so với năm trước; Cao su đạt 1,9 triệu tấn và 3,25 tỷ USD, giảm 7,4% về khối lượng và giảm 5% về giá trị so với năm trước; Rau quả cả năm 2025 đạt 8,56 tỷ USD, tăng 19,8% so với năm trước; Hạt điều 5,19 tỷ USD, tăng 5% về khối lượng và tăng 19,6% về giá trị so với năm trước.
Thủy sản đạt 11,32 tỷ USD, tăng 12,7% so với năm trước. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản là 3 thị trường tiêu thụ hàng thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 20,1%, 17,3% và 15,1%.
Gỗ và sản phẩm gỗ đạt 17,32 tỷ USD, tăng 6,4% so với năm trước. Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần 55,5%. Nhật Bản và Trung Quốc là hai thị trường lớn tiếp theo với thị phần tương ứng là 12,6% và 11,7%.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, với kinh nghiệm của 40 năm kể từ Đảng, Nhà nước ta thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, cùng với việc ngành nông nghiệp đã có kinh nghiệm thích ứng với diễn biến của thị trường trong nhiều năm qua.

Trước yêu cầu đó, năm 2026, Bộ NN&MT đặt mục tiêu tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu; phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, nước, rừng và đa dạng sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế – xã hội đất nước.
Toàn ngành phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 73 – 74 tỷ USD; trong đó, nhóm hàng nông sản khoảng 40 tỷ USD (tăng 7,2%), các mặt hàng thủy sản khoảng 12 tỷ USD (tăng 7,6%), lâm sản và đồ gỗ khoảng 18,8 tỷ USD (tăng 3,6%).
Để tạo bứt phá về giá trị, Bộ sẽ tập trung nhóm giải pháp theo chuỗi “vùng nguyên liệu – tiêu chuẩn – chế biến – logistics – thị trường”. Trong đó, chuẩn hóa vùng nguyên liệu theo “đơn hàng thị trường”. Mở rộng mã số vùng trồng/ao nuôi, quản lý chất lượng đầu vào, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc; tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn (GAP, hữu cơ, bền vững), giảm rủi ro cảnh báo và trả hàng.
Đẩy mạnh chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm. Ưu tiên đầu tư công nghệ chế biến, bảo quản, đóng gói; phát triển sản phẩm tinh chế/tiện lợi/ready-to-eat; tận dụng phụ phẩm để tạo chuỗi giá trị mới (thức ăn, vật liệu sinh học, chiết xuất…).
Giảm “chi phí logistics” để tăng biên giá trị. Phát triển kho lạnh, chuỗi lạnh, trung tâm logistics vùng; tối ưu vận tải, cửa khẩu/cảng; chuẩn hóa quy trình số để rút ngắn thời gian thông quan và giảm chi phí tuân thủ.
Nâng cấp năng lực tiếp cận thị trường và thương hiệu quốc gia. Đẩy mạnh đàm phán mở cửa thị trường, xử lý rào cản SPS/TBT; xây dựng thương hiệu ngành hàng, chỉ dẫn địa lý, marketing theo phân khúc; chuyển mạnh từ bán “nguyên liệu” sang bán “sản phẩm có câu chuyện, có chuẩn”.
Chuyển đổi xanh để vào phân khúc giá cao. Đo lường/giảm dấu chân carbon, chứng nhận bền vững; thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn và sản xuất phát thải thấp-đây là “giấy thông hành” vào các thị trường, chuỗi bán lẻ cao cấp.
Tăng năng lực tài chính và quản trị rủi ro. Phát triển bảo hiểm nông nghiệp, công cụ phòng ngừa rủi ro giá/đầu vào; dự báo thị trường và cảnh báo sớm rào cản kỹ thuật để doanh nghiệp chủ động.
Thy Hằng – Diễn đàn Doanh nghiệp



