Hệ thống chữa cháy tự động bằng khí “sạch”: Giải pháp cho những không gian cần bảo vệ đặc biệt
Hệ thống chữa cháy tự động bằng khí hiện diện ngày càng nhiều tại các công trình, nhất là ở những khu vực thiết bị điện, điện tử, dữ liệu và tài sản có giá trị cao. Không dẫn điện, không để lại cặn sau khi xả là những ưu điểm nổi bật, nhưng hiệu quả của giải pháp này không chỉ phụ thuộc vào loại khí được sử dụng mà còn vào cả quá trình tính toán, thiết kế, lựa chọn thiết bị, thi công, vận hành và bảo trì.
Khi “dập được cháy” chưa phải là đích đến
Với một đám cháy thông thường, yêu cầu trước hết là nhanh chóng khống chế và dập tắt ngọn lửa. Nhưng tại phòng máy chủ, trung tâm dữ liệu, phòng điều khiển, khu vực thiết bị điện – điện tử hay những nơi lưu giữ tài sản có giá trị cao, bài toán phòng cháy chữa cháy (PCCC) không dừng ở đó.
.jpg)
Ở những khu vực này, phương thức chữa cháy nếu không phù hợp có thể gây tổn thất thứ cấp. Đám cháy được dập tắt nhưng doanh nghiệp vẫn có thể phải thay thế thiết bị, phục hồi hệ thống, dữ liệu và chịu thiệt hại do gián đoạn hoạt động. Đây chính là không gian ứng dụng điển hình của hệ thống chữa cháy tự động bằng khí.
Theo TCVN 7161-1:2022 (ISO 14520-1:2015), hệ thống thuộc phạm vi tiêu chuẩn sử dụng các chất chữa cháy không dẫn điện, không để lại cặn sau khi xả. Một hệ thống hoàn chỉnh là chuỗi hoạt động liên kết từ phát hiện cháy, xử lý tín hiệu, cảnh báo, điều khiển liên động đến kích hoạt và đưa lượng chất chữa cháy đã được tính toán vào khu vực bảo vệ. Hiệu quả phụ thuộc vào loại môi chất, nồng độ thiết kế, thể tích, độ kín của không gian cũng như bố trí đường ống và đầu phun.
Trên thị trường hiện có nhiều giải pháp, phổ biến gồm HFC-227ea (FM-200), FK-5-1-12 (NOVEC 1230) và nhóm khí trơ IG-100, IG-55, IG-541. Các loại khí có cơ chế chữa cháy, đặc tính và yêu cầu kỹ thuật khác nhau.
.png)
Điểm chung đáng chú ý là khả năng chữa cháy trong không gian kín, không dẫn điện, không để lại cặn sau khi xả, qua đó hạn chế tác động thứ cấp lên thiết bị. Với phòng máy chủ, trung tâm điều khiển hay dây chuyền sản xuất giá trị lớn, giá thành đầu tư vì thế cần được đặt trong tương quan với giá trị tài sản, chi phí phục hồi và nguy cơ gián đoạn vận hành.
Lựa chọn đúng loại khí và bảo đảm yêu cầu kỹ thuật
Chữa cháy bằng khí không phải công nghệ mới. Quá trình ứng dụng đã hình thành những hệ thống tiêu chuẩn khá chi tiết về thiết kế, lắp đặt, thử nghiệm, vận hành, bảo trì và an toàn loại hình chữa cháy này. Trong đó, ISO 14520 và NFPA 2001 là những tiêu chuẩn quốc tế được đề cập; tại Việt Nam, hệ thống chữa cháy tự động bằng khí được thực hiện theo bộ TCVN 7161, gồm yêu cầu chung và các phần quy định chi tiết đối với từng loại khí chữa cháy.
Điểm quan trọng là “khí sạch” không đồng nghĩa chỉ cần lựa chọn đúng môi chất. Để hệ thống hoạt động hiệu quả và an toàn phải kiểm soát đồng bộ ít nhất bốn khâu: tính toán – thiết kế; chất lượng thiết bị; thi công – lắp đặt; vận hành – bảo trì.
Ngay từ thiết kế, loại khí và nồng độ chữa cháy phải phù hợp với nguy cơ của khu vực bảo vệ. Chất rắn, chất lỏng cháy hay khu vực có thiết bị điện có yêu cầu về lượng chất chữa cháy khác nhau.
Chất lượng thiết bị cũng đặc biệt quan trọng bởi hệ thống sử dụng các bình chứa khí áp suất cao và thường được vận hành trong thời gian dài, có thể tới hàng chục năm. Bình chứa, van kích hoạt phải luôn duy trì trạng thái sẵn sàng. Nếu lựa chọn chỉ dựa vào mức giá thấp, thiết bị kém chất lượng không chỉ ảnh hưởng khả năng chữa cháy mà còn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn.
Yêu cầu tương tự đặt ra ở khâu thi công. Khi hệ thống kích hoạt, khí chữa cháy có áp suất cao và lưu lượng lớn đi qua đường ống trong thời gian ngắn, tạo phản lực lớn lên cụm bình, đường ống và đầu phun. Vì vậy, việc cố định cụm bình, bố trí giá đỡ, làm sạch và thử áp đường ống phải tuân thủ yêu cầu kỹ thuật.
Và một hệ thống thiết kế đúng, thiết bị tốt, thi công đúng kỹ thuật vẫn cần được kiểm tra, bảo trì định kỳ để duy trì trạng thái sẵn sàng. Vì vậy, sự đồng hành của nhà sản xuất và đơn vị kỹ thuật không nên dừng ở thời điểm cung cấp thiết bị mà cần kéo dài trong quá trình vận hành hệ thống.
Nhu cầu thị trường Việt Nam và năng lực sản xuất trong nước
Nhu cầu ứng dụng chữa cháy bằng khí ngày càng rõ khi Việt Nam phát triển các ngành điện tử, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, viễn thông, tự động hóa và những công trình có hàm lượng thiết bị lớn. Với các dự án có nhà đầu tư hoặc tư vấn quốc tế, hệ thống PCCC còn có thể phải đáp ứng các chuẩn mực, chứng nhận quốc tế theo yêu cầu dự án. Thị trường vì thế đang chuyển từ câu hỏi “có hệ thống gì để sử dụng?” sang “giải pháp nào phù hợp và đáp ứng đúng chuẩn cho công trình?”.
.jpg)
Sự chuyển dịch đó đồng thời đặt ra yêu cầu về năng lực sản xuất, thiết kế và dịch vụ kỹ thuật trong nước. Trong nhiều năm, nhập khẩu là một trong những con đường phổ biến để thị trường Việt Nam tiếp cận các hệ thống PCCC công nghệ cao. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài kéo theo những bài toán về chi phí, thời gian cung ứng, linh kiện thay thế và hỗ trợ kỹ thuật.
Đây cũng là hướng đi Công ty TNHH S-TEC VINA lựa chọn từ khi thành lập năm 2018. Với nhà máy tại KCN Đồng Văn IV (Ninh Bình) và nền tảng công nghệ của S-TEC System (Hàn Quốc), doanh nghiệp định hướng phát triển, sản xuất trang thiết bị PCCC tại Việt Nam, trong đó chữa cháy bằng khí là một lĩnh vực trọng tâm.
Theo Phó Tổng Giám đốc Công ty – ông Trần Vũ Nhật, S-TEC VINA hiện phát triển các hệ thống sử dụng HFC-227ea, IG-100 và FK-5-1-12, phục vụ những yêu cầu bảo vệ khác nhau của công trình. Thay vì chỉ nhập khẩu hệ thống hoàn chỉnh để phân phối, doanh nghiệp từng bước đưa hoạt động sản xuất về Việt Nam. Bình chứa chất chữa cháy cùng nhiều cấu phần như van, cụm góp, van giảm áp, đầu phun,... được sản xuất trong nước; doanh nghiệp đồng thời tham gia thiết kế, lắp đặt, kiểm tra và cung cấp dịch vụ kỹ thuật cho hệ thống chữa cháy bằng khí.
Năng lực tại chỗ giúp tăng tính chủ động về thiết bị, phụ tùng, rút ngắn thời gian cung ứng và hỗ trợ sau lắp đặt. Đây là yếu tố có ý nghĩa với hệ thống PCCC vốn cần được kiểm tra, bảo trì, thay thế linh kiện và phục hồi trạng thái sẵn sàng sau khi kích hoạt.
Với sản phẩm liên quan trực tiếp đến an toàn, nội địa hóa chỉ thực sự có giá trị khi đi cùng tiêu chuẩn và chất lượng. S-TEC VINA công bố áp dụng các hệ thống quản lý ISO 9001, ISO 14001, ISO 45001; một số sản phẩm, cấu phần liên quan được phát triển theo các tiêu chuẩn, chứng nhận quốc tế như UL, FM.
Từ thực tế sản xuất, thiết kế và cung cấp dịch vụ kỹ thuật trong nước, S-TEC VINA đang theo đuổi hướng tiếp cận: giá trị của hệ thống chữa cháy bằng khí không chỉ nằm ở thiết bị hay loại môi chất được lựa chọn, mà còn ở khả năng cung cấp giải pháp phù hợp, duy trì hiệu quả và an toàn trong suốt quá trình vận hành công trình.
