Chuyển đổi xanh phải trở thành động lực kiến tạo mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam
Theo ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp vì sự Phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD), tăng trưởng xanh phải trở thành con đường tạo ra năng suất, thị trường và vị thế mới cho doanh nghiệp Việt.
Trong mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số giai đoạn 2026 - 2030, đâu sẽ là những động lực xanh nền tảng giúp Việt Nam tăng trưởng nhanh và bền vững, thưa ông?

Theo tôi, vấn đề cốt lõi là thay đổi cách thức tạo ra giá trị của nền kinh tế. Chúng ta cần chuyển từ tăng trưởng dựa chủ yếu vào gia tăng các yếu tố đầu vào sang tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đây cũng là yêu cầu được đặt ra trong Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Nghị quyết xác định mục tiêu đến năm 2035 hình thành mô hình kinh tế "hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập", trong đó kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon thấp trở thành những cấu trúc quan trọng của nền kinh tế.
Từ góc nhìn đó, tôi cho rằng Việt Nam cần tập trung vào ba động lực xanh có tính nền tảng.
Thứ nhất, chuyển dịch năng lượng gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Báo cáo Energy Transition Investment Trends 2026 của BloombergNEF ghi nhận đầu tư toàn cầu cho chuyển dịch năng lượng đạt 2.300 tỷ USD năm 2025, tăng 8% so với năm trước; trong đó giao thông điện hóa 893 tỷ USD, năng lượng tái tạo 690 tỷ USD và lưới điện 483 tỷ USD. Với doanh nghiệp, sử dụng năng lượng hiệu quả chính là cách trực tiếp để giảm chi phí, hạn chế rủi ro và cải thiện năng lực cạnh tranh.
Thứ hai, nâng cao năng suất tài nguyên thông qua kinh tế tuần hoàn. Báo cáo của UNDP (tháng 12/2025) cho biết mức độ tuần hoàn của kinh tế toàn cầu mới đạt khoảng 6,9%, cho thấy dư địa rất lớn để duy trì giá trị nguyên vật liệu trong nền kinh tế. Đối với Việt Nam, kinh tế tuần hoàn cần được tiếp cận như chiến lược nâng cao hiệu quả kinh tế, chứ không chỉ là xử lý chất thải.
Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi kép, lấy công nghệ số và dữ liệu làm công cụ nâng cao hiệu quả chuyển đổi xanh, xác định điểm lãng phí, tối ưu vận hành và đưa ra quyết định đầu tư chính xác hơn.
Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn lao động. Báo cáo Tương lai việc làm 2025 (The Future of Jobs Report 2025) của Diễn đàn kinh tế thế giới ghi nhận kỹ năng quản lý môi trường lần đầu xuất hiện trong nhóm 10 kỹ năng được dự báo gia tăng nhanh nhất về tầm quan trọng đến năm 2030, cho thấy chuyển đổi xanh đòi hỏi thay đổi đồng bộ về công nghệ, quản trị và năng lực con người.
Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng tăng trưởng xanh không thể tách rời khả năng chống chịu của nền kinh tế. Bảo vệ nguồn nước, đất đai, hệ sinh thái và đầu tư cho thích ứng biến đổi khí hậu chính là bảo vệ các điều kiện sản xuất trong dài hạn. Việc Nghị quyết 19 đặt ra định hướng từng bước hạch toán vốn tự nhiên trong hệ thống thống kê quốc gia cho thấy yêu cầu quản lý nguồn lực phát triển đang được mở rộng theo hướng toàn diện hơn.
Sau nhiều năm đồng hành cùng Diễn đàn Doanh nghiệp Phát triển bền vững Việt Nam (VCSF), ông thấy doanh nghiệp Việt Nam đang thay đổi như thế nào trong cách tiếp cận phát triển bền vững?
Qua hơn một thập kỷ triển khai Diễn đàn Doanh nghiệp phát triển bền vững Việt Nam (VCSF) và Chương trình đánh giá, công bố các doanh nghiệp bền vững (CSI), chúng tôi nhận thấy phát triển bền vững đang chuyển từ hoạt động mang tính trách nhiệm xã hội sang nội dung trong chiến lược kinh doanh và quản trị doanh nghiệp.
Nếu trước đây nhiều doanh nghiệp chủ yếu quan tâm tuân thủ quy định môi trường hoặc hoạt động cộng đồng, thì nay các vấn đề như giảm phát thải, sử dụng năng lượng hiệu quả, quản trị ESG (môi trường, xã hội và quản trị) và trách nhiệm chuỗi cung ứng đã được chú trọng hơn trong quyết định đầu tư và tổ chức sản xuất.
Năm 2025, Chương trình CSI thu hút hơn 500 doanh nghiệp tham gia, trong đó khoảng 30% là doanh nghiệp nhỏ và vừa – tỷ lệ cao nhất trong các năm; điểm số trung bình của hồ sơ cũng tăng so với những năm trước. Tuy chưa đại diện cho toàn bộ cộng đồng, những con số này phản ánh chuyển biến tích cực trong nhóm doanh nghiệp chủ động.
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng khoảng cách giữa nhận thức, cam kết và năng lực thực thi vẫn còn đáng kể. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, gặp khó khăn về nguồn vốn, công nghệ, nhân lực và khả năng đo lường các chỉ tiêu bền vững.
Tôi cho rằng doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi tư duy theo ba hướng: từ đối phó với tiêu chuẩn sang chủ động nâng cấp năng lực; từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị; từ tham gia từng công đoạn riêng lẻ sang xây dựng năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Đối với cộng đồng doanh nghiệp, đây là những định hướng cần được cụ thể hóa thành chương trình nâng cao năng lực nhà cung ứng, phát triển tiêu chuẩn sản xuất và thúc đẩy hợp tác công nghệ.
VCCI và VBCSD sẽ có bước đi đột phá nào để hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi kép trong giai đoạn tăng tốc sắp tới?
Yêu cầu trong giai đoạn tới là chuyển mạnh từ nâng cao nhận thức sang hỗ trợ thực thi, từ các chương trình riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi đồng bộ và có thể đo lường kết quả.
VCCI và VBCSD sẽ tập trung vào ba định hướng hành động. Đầu tiên, nâng cấp các công cụ quản trị bền vững theo hướng thiết thực và dễ tiếp cận hơn, trọng tâm là Bộ chỉ số CSI. Năm 2026 là năm thứ 11 liên tiếp VCCI triển khai Chương trình CSI; chúng tôi mong muốn CSI không chỉ là công cụ đánh giá và biểu dương, mà còn giúp doanh nghiệp tự nhận diện khoảng trống trong quản trị, xác định vấn đề ưu tiên và xây dựng lộ trình cải thiện.
Hai là, thúc đẩy kết nối nguồn lực và hợp tác trong chuỗi giá trị. VCCI - VBCSD sẽ tiếp tục thúc đẩy hoạt động của Câu lạc bộ CSI, các chương trình tập huấn về ESG, quản trị bền vững và kiểm kê khí nhà kính; đồng thời tăng cường kết nối doanh nghiệp với tổ chức tài chính, đối tác công nghệ, tổ chức quốc tế và cơ sở nghiên cứu để hỗ trợ triển khai các dự án chuyển đổi khả thi.
Ba là, nâng cao chất lượng đối thoại chính sách và thúc đẩy sáng kiến hợp tác công - tư. Thông qua Diễn đàn VCSF và các hoạt động đối thoại, VCCI - VBCSD sẽ tiếp tục tổng hợp khó khăn thực tiễn của doanh nghiệp để kiến nghị hoàn thiện cơ chế thực thi, đặc biệt trong các lĩnh vực năng lượng sạch, kinh tế tuần hoàn, thị trường các-bon, tài chính xanh và phát triển nhà cung ứng. Chúng tôi sẽ tiếp tục đồng hành để những nỗ lực riêng lẻ được kết nối thành năng lực chuyển đổi chung của cộng đồng doanh nghiệp.
Trân trọng cảm ơn ông!

Ông Lê Ngọc Lâm - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)
Theo chúng tôi, yếu tố then chốt để theo đuổi phát triển bền vững một cách thực chất và lâu dài chính là cam kết nhất quán của lãnh đạo và khả năng chuyển hóa cam kết đó thành chiến lược, mục tiêu và hành động cụ thể trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Phát triển bền vững không nên được nhìn nhận đơn thuần là yêu cầu tuân thủ hay trách nhiệm xã hội, mà cần trở thành một phần của chiến lược phát triển, mô hình kinh doanh và năng lực cạnh tranh dài hạn.
Với BIDV, tinh thần này được thể hiện rõ trong định vị phát triển “Lớn – Mạnh – Xanh”, trong đó “Xanh” là một trong ba trụ cột chiến lược dài hạn. BIDV là ngân hàng tiên phong tại Việt Nam xây dựng Chiến lược phát triển bền vững và thực hành ESG giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới mục tiêu trở thành ngân hàng dẫn đầu thị trường Việt Nam về phát triển xanh, bền vững và thực hành ESG. Chiến lược xác lập các vấn đề trọng yếu, hệ thống mục tiêu cùng lộ trình triển khai cụ thể để từng bước tích hợp toàn diện ESG vào hoạt động ngân hàng.
BIDV đang từng bước hoàn thiện hệ sinh thái tài chính bền vững, thúc đẩy tín dụng xanh, tăng cường quản trị rủi ro môi trường – xã hội và đồng hành cùng khách hàng trong trong quá trình chuyển đổi.
Từ hành trình của BIDV, chúng tôi cho rằng phát triển bền vững là một quá trình chuyển đổi dài hạn, không phải một đích đến ngắn hạn. Mỗi doanh nghiệp dù có điểm xuất phát và nguồn lực khác nhau nhưng điều quan trọng là cần bắt đầu từ những vấn đề thực sự trọng yếu, đặt ra mục tiêu phù hợp và kiên trì thực hiện. Đặc biệt, cần nhìn nhận ESG không chỉ dưới góc độ chi phí hay nghĩa vụ, mà còn là cơ hội để đổi mới mô hình kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị, khả năng thích ứng và mở ra những động lực tăng trưởng mới.
.jpg)
Ông Worawit Arunraksa, Giám đốc Phát triển bền vững, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam
Với C.P. Việt Nam, phát triển bền vững phải được thể hiện bằng hành động cụ thể và kết quả có thể đo lường. Điều quan trọng là đưa mục tiêu này vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hằng ngày và kiên trì thực hiện trong dài hạn.
Trong hơn 33 năm hoạt động tại Việt Nam, chúng tôi từng bước ứng dụng công nghệ vào mô hình tích hợp Feed - Farm - Food. Từ hệ thống trang trại thông minh, đến số hóa công tác quản lý, vận hành tại nhà máy, các giải pháp được triển khai nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, sử dụng tài nguyên hợp lý và giảm tác động đến môi trường.
Để theo dõi quá trình thực hiện, C.P. Việt Nam tham gia đầy đủ vào các chương trình đánh giá như Chỉ số CSI của VBCSD, đối chiếu hoạt động của mình với các chỉ số quản trị, môi trường và trách nhiệm xã hội. Song song đó, doanh nghiệp chủ động thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) cùng Liên minh PRO Việt Nam, và triển khai chương trình trồng 3 triệu cây xanh giai đoạn 2021 - 2030 phối hợp với Cục Lâm nghiệp cùng các bên liên quan. Trong giai đoạn 1 từ năm 2021 - 2025, chương trình đã hoàn thành trồng 1,5 triệu cây. Cùng với đó, trách nhiệm với cộng đồng cũng là một phần quan trọng trong định hướng phát triển bền vững của chúng tôi.
Từ kinh nghiệm của C.P. Việt Nam, chúng tôi cho rằng phát triển bền vững là một khoản đầu tư dài hạn cho năng lực cạnh tranh và uy tín thương hiệu. Điều này đòi hỏi sự kiên trì, đo lường minh bạch và hợp tác chặt chẽ với các bên liên quan từ cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành, các tổ chức phi chính phủ, đến cộng đồng địa phương.

Ông James Crampton, Giám đốc Đối ngoại doanh nghiệp – HEINEKEN Việt Nam
Tại HEINEKEN Việt Nam, phát triển bền vững luôn gắn liền với cách chúng tôi phát triển hoạt động kinh doanh. Với chiến lược “Vì một Việt Nam tốt đẹp hơn”, chúng tôi đặt tính bền vững và trách nhiệm vào trọng tâm của cách thức vận hành, đổi mới và tạo dựng giá trị – cho doanh nghiệp, các bên liên quan và cộng đồng nơi chúng tôi hoạt động.
Điều này được thể hiện qua cách chúng tôi hoạt động và đóng góp cho sự phát triển bền vững của Việt Nam – từ việc tiên phong triển khai mô hình hợp tác công – tư nhằm bảo tồn nguồn nước tại 5 lưu vực sông trọng yếu, với mục tiêu đạt cân bằng 100% nguồn nước tại tất cả các nhà máy bia HEINEKEN Việt Nam; đến đầu tư vào con người, xây dựng môi trường làm việc nơi nhân tài có thể phát triển, đồng thời đồng hành cùng cộng đồng địa phương trong cả những thời điểm thuận lợi cũng như khó khăn. Chúng tôi cũng đã có 15 năm phối hợp với Chính phủ và các đối tác, trong đó có lực lượng Cảnh sát giao thông, nhằm thúc đẩy việc sử dụng đồ uống có trách nhiệm và góp phần bảo đảm an toàn giao thông.
Không một doanh nghiệp nào có thể phát triển một mình. “Khi chúng ta phát triển, những người đồng hành cùng chúng ta cũng phát triển” – đây là nguyên tắc định hướng cách HEINEKEN nhìn nhận vai trò của mình tại Việt Nam. Trong nhiều năm qua, chúng tôi đã hợp tác chặt chẽ với các cơ quan Chính phủ, đối tác kinh doanh, nhà cung cấp, cộng đồng và các bên liên quan để chia sẻ kiến thức, công nghệ, xây dựng năng lực tại địa phương và củng cố các mối quan hệ hợp tác dài hạn. Thông qua kết nối con người, chuyên môn và nguồn lực trong toàn chuỗi giá trị, chúng tôi hướng tới tạo ra những cơ hội vượt ra ngoài hoạt động của riêng doanh nghiệp, đóng góp vào một nền tăng trưởng bao trùm và bền vững hơn cho Việt Nam.
