Di sản nghìn năm trong tầm nhìn đô thị mới
Di tích Quốc gia đặc biệt Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý - nơi lưu dấu một triều đại khai mở văn minh Đại Việt, đang đứng trước cơ hội chuyển hóa giá trị nghìn năm thành nguồn lực phát triển du lịch bền vững.

Bảo tồn di sản gắn với chuyển đổi số và lan tỏa văn hóa
Tọa lạc tại phường Từ Sơn, Khu di tích lịch sử Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Quần thể di tích gắn với đất phát tích Cổ Pháp, quê hương Lý Công Uẩn - vị vua khai mở triều Lý, quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La năm 1010, mở ra thời kỳ phát triển rực rỡ của Kinh thành Thăng Long.
Giá trị của Khu di tích không chỉ nằm ở kiến trúc truyền thống, mà còn kết tinh trong lịch sử triều đại, tín ngưỡng thờ tổ tiên và những thực hành văn hóa được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ. Được khởi dựng năm 1030 dưới triều Lý Thái Tông trên nền Thái miếu xưa, quần thể di tích là một chỉnh thể phong thủy - kiến trúc gồm hai hợp phần gắn kết hữu cơ: khu đền thờ 8 vị hoàng đế triều Lý (còn gọi là Đền Đô), bố cục theo lối “nội công ngoại quốc” với hệ thống 21 hạng mục công trình; và khu lăng mộ của các vị vua cùng hoàng tộc triều Lý - xưa gọi là “Sơn lăng cấm địa”, gắn với không gian linh thiêng của vùng đất Đình Bảng. Không gian di sản còn lưu dấu nơi an nghỉ của Thánh mẫu Phạm Thị, Nguyên phi Ỷ Lan và phần mộ Lý Chiêu Hoàng, góp phần làm sâu sắc thêm lịch sử của vương triều.

Phục dựng từ năm 1989, nhiều hạng mục Đền Đô dần xuống cấp trước tác động của thời gian và khí hậu. Tháng 8/2025, dự án tu bổ, tôn tạo được khởi công theo Quyết định số 140/QĐ-UBND của UBND phường Từ Sơn. Giai đoạn 1 có kinh phí khoảng 70 tỷ đồng, tập trung vào 16/21 hạng mục kiến trúc, với yêu cầu huy động thợ lành nghề, nghệ nhân giàu kinh nghiệm, bảo tồn tối đa cấu kiện gốc.
Sau 8 tháng thi công, công trình khánh thành ngày 29/4/2026, kịp phục vụ lễ hội. Tuy nhiên, giá trị trùng tu không nằm ở diện mạo mới, mà ở khả năng gìn giữ tính nguyên gốc và chân xác lịch sử. Ông Nguyễn Tiến Chiến, Trưởng Ban Quản lý di tích, nhấn mạnh: “Những cấu kiện còn khả năng bảo tồn cần được giữ lại; việc thay thế phải căn cứ tình trạng thực tế và được cấp có thẩm quyền cho phép”. Đó là nguyên tắc cốt lõi để tu bổ không thành làm mới, để di sản được hồi sinh mà không đánh mất hồn cốt tiền nhân.

Cùng với bảo tồn kiến trúc, Đền Đô từng bước số hóa trải nghiệm di sản. Đội ngũ thuyết minh 4 người, trong đó có Nhà giáo Nhân dân, Anh hùng Lao động Nguyễn Đức Thìn, kết hợp hệ thống mã QR song ngữ Việt - Anh giúp du khách khám phá sâu hơn lịch sử triều Lý; phần mềm chuyển đổi số được đầu tư khoảng 500 triệu đồng trong năm 2025. Chuyển đổi số không đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà là mở rộng khả năng tiếp cận di sản, đặc biệt với giới trẻ và khách quốc tế. Đặc biệt, di sản không chỉ được kể bằng sử liệu mà còn được đánh thức qua những làn điệu Quan họ Bắc Ninh - di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh. Câu lạc bộ Quan họ Đền Đô gồm 12 thành viên là người địa phương, am hiểu và gắn bó với truyền thống, được đào tạo bài bản, góp phần đưa dân ca Quan họ đến gần du khách, tạo nên sự giao hòa giữa chiều sâu lịch sử triều Lý và sức sống văn hóa Kinh Bắc hôm nay.
Một điểm đáng chú ý khác là cách quản lý tài chính. Đền Đô không thu vé vào cửa; theo ông Chiến, các khoản công đức được kiểm đếm, ghi sổ, quản lý qua nhiều bộ phận và công khai trong các cuộc họp định kỳ. Sự minh bạch ấy, góp phần củng cố niềm tin cộng đồng, bảo đảm nguồn lực phục vụ di tích được quản lý có trách nhiệm.
Từ điểm đến tâm linh đến kinh tế di sản
Theo thống kê hằng năm, ba ngày hội chính thu hút khoảng 20.000 lượt người; lượng khách đi theo các đoàn tàu du lịch đạt khoảng 8.000 - 9.000 lượt mỗi tháng, tương đương gần 100.000 lượt một năm, nếu duy trì ổn định. Những con số này cho thấy, Đền Đô có khả năng trở thành mắt xích quan trọng trong hành trình khám phá di sản Kinh Bắc.
Tại lễ hội Đền Đô năm 2026, diễn ra từ ngày 30/4 đến 2/5, tiếp tục kết hợp phần lễ trang nghiêm với các hoạt động văn hóa phong phú: rước kiệu, dâng hương, đọc Chiếu dời đô, hát Quan họ trên thuyền rồng, múa rối nước, chèo, tuồng và trò chơi dân gian. Việc kết hợp truyền thống với các hình thức trải nghiệm đa dạng giúp di sản tiếp cận nhiều nhóm công chúng hơn.

Dẫu vậy, lượng khách tập trung vào mùa lễ hội chưa đủ tạo nên một sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh quanh năm. Bài toán đặt ra là kéo dài thời gian lưu trú, tăng trải nghiệm và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng. Ông Nguyễn Tiến Chiến cho rằng: “Cần thêm không gian lưu trú, vui chơi và trải nghiệm để du khách có lý do ở lại lâu hơn; các định hướng phát triển không gian gắn với sông Tiêu Tương và khu vực phụ trợ di tích có thể mở ra cơ hội mới”.
Muốn biến tiềm năng thành giá trị kinh tế thực chất, Bắc Ninh cần kết nối Đền Đô với các điểm di sản, không gian Quan họ, làng nghề và sản phẩm đặc trưng thành những tuyến du lịch có chủ đề. Bánh phu thê Đình Bảng, tranh dân gian Đông Hồ và sản phẩm thủ công địa phương có thể trở thành một phần của trải nghiệm, qua đó đưa lợi ích du lịch đến gần hơn với người dân. Đồng thời, mọi hoạt động khai thác phải dựa trên quy hoạch đồng bộ, bảo vệ môi trường, kiểm soát sức chịu tải và tuyệt đối không thương mại hóa nghi lễ.
Định hướng phát triển công nghiệp văn hóa theo Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ cũng đặt ra yêu cầu khai thác giá trị văn hóa bằng các phương thức sáng tạo, chuyên nghiệp và bền vững. Với Đền Đô, điều đó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, cơ quan văn hóa, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng; bên cạnh đó nâng chất lượng thuyết minh, quảng bá số, dịch vụ và liên kết điểm đến.
Bắc Ninh bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu song hành giữa hiện đại hóa và gìn giữ bản sắc. Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Đô vì thế không chỉ là nơi trở về với cội nguồn, mà còn là phép thử về năng lực quản trị di sản của đô thị: bảo tồn có trách nhiệm, quản lý minh bạch, ứng dụng công nghệ và phát triển du lịch dựa trên giá trị thật.
