Tiêu điểm
Phía sau sức bật AI của Trung Quốc: Cơ hội nào cho Việt Nam
Kinh nghiệm phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) của Trung Quốc cho thấy, sức mạnh công nghệ không chỉ đến từ nghiên cứu mà còn được tạo nên bởi hạ tầng tính toán, dữ liệu và khả năng đưa sản phẩm vào thực tiễn. Đây là những gợi mở quan trọng để Việt Nam mở rộng hợp tác, phát triển hệ sinh thái AI và khai thác hiệu quả hơn tiềm năng của công nghệ này.
Trung Quốc phát triển AI từ hạ tầng đến ứng dụng thực tiễn
Tại Hội thảo Việt Nam - Trung Quốc về Nghiên cứu và Ứng dụng AI diễn ra ngày 29/10/2026 tại Quảng Ninh, các đại biểu đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm phát triển AI của Trung Quốc, từ xây dựng hạ tầng, khai thác dữ liệu đến thúc đẩy ứng dụng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội.

Theo ông Fan Bin, Hàm vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin Trung Quốc (MIIT), một trong những trọng tâm của nước này là thúc đẩy kết nối cung - cầu công nghệ, đưa AI vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đến nay, hơn 5.000 doanh nghiệp đã được kết nối, tạo điều kiện để các giải pháp công nghệ tiếp cận nhu cầu thực tế của thị trường.
Kinh nghiệm đáng chú ý là Trung Quốc không chỉ tập trung phát triển công nghệ mà còn chú trọng khả năng ứng dụng. Các giải pháp robot và AI được định hướng đưa vào những hoạt động cụ thể, thay vì dừng ở trình diễn, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất và vận hành.
Tại Quảng Tây, hạ tầng kết nối và năng lực tính toán được xác định là nền tảng quan trọng để thúc đẩy hợp tác AI với các nước ASEAN. Tuyến truyền dẫn Nam Ninh - Hà Nội có độ trễ khoảng 3,5 ms; nhà máy tính toán thông minh đạt công suất 200 tỷ token/giờ. Đây là những điều kiện hỗ trợ trao đổi dữ liệu, nghiên cứu và triển khai các ứng dụng AI xuyên biên giới.
Quảng Tây cũng tập trung xây dựng nguồn dữ liệu phục vụ phát triển các mô hình chuyên ngành. Địa phương đã tập hợp hơn 6.992 tỷ bản ghi dữ liệu từ 86 cơ quan; riêng bộ dữ liệu về rừng bạch đàn có dung lượng hơn 300 petabyte. Cùng với đó là các mô hình ngôn ngữ Lào, mô hình tiếng Việt và mô hình pháp luật Trung Quốc - ASEAN dựa trên 131 bộ luật.
Những ứng dụng cụ thể cho thấy AI đang được đưa vào giải quyết các bài toán thực tiễn. Hợp tác Trung Quốc - Lào trong ứng dụng AI hỗ trợ y tế đối với bệnh thalassemia là một ví dụ. Trong lĩnh vực văn hóa, dự án phim ngắn ứng dụng AI giữa Việt Nam và Trung Quốc đạt doanh thu hơn 20 triệu đồng ngay trong tuần đầu tiên. Quảng Tây cũng triển khai 15 khóa đào tạo AI cho ASEAN, với hơn 500 cán bộ tham gia.

Theo ông Triệu Chí Cương, Phó Tổng thư ký Chính quyền nhân dân Khu tự trị, Cục trưởng Cục Phát triển dữ liệu lớn Quảng Tây, những kết quả này là cơ sở để địa phương tiếp tục mở rộng hợp tác với Việt Nam và các nước ASEAN, đặc biệt trong kết nối hạ tầng số, phát triển dữ liệu và ứng dụng AI theo nhu cầu từng lĩnh vực.
Hợp tác Việt Nam - Trung Quốc mở rộng dư địa phát triển AI
Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, vấn đề đặt ra với Việt Nam không chỉ là tiếp cận công nghệ mà còn phải xây dựng năng lực ứng dụng, phát triển dữ liệu và tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp.
.jpg)
Tại hội thảo, đại diện Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo đã chia sẻ định hướng phát triển AI của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh mục tiêu đưa AI trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ. Chiến lược AI đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu kinh tế AI đóng góp 6% GDP, năng suất lao động tăng 10-15%, đồng thời hỗ trợ ít nhất 500.000 doanh nghiệp, hộ kinh doanh và hợp tác xã ứng dụng AI.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, hợp tác quốc tế có vai trò quan trọng trong tiếp cận công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển các giải pháp ứng dụng. Phía Trung Quốc đề xuất tăng cường hợp tác nghiên cứu, phát triển mô hình lớn, thúc đẩy mã nguồn mở và chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng AI. Đây cũng là những lĩnh vực Việt Nam có thể tận dụng để mở rộng năng lực nghiên cứu và kết nối doanh nghiệp với các đối tác công nghệ.
Ở cấp độ địa phương, Quảng Tây đề xuất tăng cường kết nối hạ tầng số, phát triển mô hình ngôn ngữ tiếng Việt và mở rộng các ứng dụng AI trong nông nghiệp, công nghiệp, văn hóa, du lịch, giáo dục và y tế. Những lĩnh vực này đều có dư địa hợp tác, đồng thời gắn trực tiếp với nhu cầu chuyển đổi số của doanh nghiệp và hoạt động quản lý, sản xuất tại Việt Nam.
Thực tiễn nghiên cứu tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT) cũng cho thấy tiềm năng đưa AI vào những bài toán cụ thể. PGS.TS. Nguyễn Trọng Khánh, Phó Trưởng khoa Công nghệ thông tin, giới thiệu mô hình trợ giảng AI với 62% sinh viên khối kinh tế quay lại sử dụng. Một ứng dụng khác là hệ thống AI nhận diện gỗ, đã số hóa hơn 260 loài với khoảng 100.000 hình ảnh, hỗ trợ hoạt động nhận diện, kiểm tra của lực lượng hải quan và kiểm lâm.
Những ví dụ này cho thấy hướng phát triển AI không nhất thiết chỉ tập trung vào các mô hình quy mô lớn, mà cần chú trọng giải quyết những nhu cầu cụ thể của từng ngành, lĩnh vực. Với doanh nghiệp, hiệu quả của AI cần được nhìn nhận qua khả năng cải thiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng suất và chất lượng dịch vụ.

PGS.TS. Trần Quang Anh, Phó Giám đốc PTIT, nhấn mạnh vai trò của hợp tác giữa các cơ sở nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong phát triển AI. Việc kết nối nguồn lực nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm và thúc đẩy ứng dụng sẽ góp phần hình thành các sản phẩm công nghệ có khả năng đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Từ những kinh nghiệm được chia sẻ tại hội thảo, có thể thấy dư địa hợp tác Việt Nam - Trung Quốc không chỉ nằm ở chuyển giao công nghệ hay trao đổi chuyên gia, mà còn ở khả năng cùng nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các giải pháp AI. Với Việt Nam, đây là cơ hội tiếp cận kinh nghiệm, hạ tầng và nguồn lực công nghệ, đồng thời thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp.
Điều quan trọng là biến các cơ hội hợp tác thành sản phẩm và ứng dụng cụ thể, tạo ra giá trị thực chất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi AI được triển khai đúng nhu cầu và gắn với năng lực nghiên cứu trong nước, công nghệ này mới có thể đóng góp rõ nét hơn vào năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.