Kinh tế địa phương

Kinh tế địa phương

Khoa học, công nghệ mở đường cho động lực tăng trưởng mới

PV 07/09/2026 11:04

Trong tiến trình kiến tạo môi trường đầu tư, kinh doanh mới, Vĩnh Long xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là công cụ hỗ trợ quản lý mà phải trở thành động lực trực tiếp nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh.

Hoàn thiện thể chế, đưa khoa học công nghệ vào đời sống kinh tế

Để khoa học, công nghệ và ĐMST thực sự đi vào sản xuất, kinh doanh, Vĩnh Long đã tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách và tạo hành lang thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ. Theo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Long, tỉnh đã ban hành 18 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực khoa học, công nghệ và ĐMST.

Ông Nguyễn Văn Giới, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Long phát biểu tại buổi Đối thoại
Ông Nguyễn Văn Giới, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Long

Trong đó, Nghị quyết số 16/2025/NQ-HĐND quy định định mức chi cho nhiệm vụ khoa học và công nghệ; Nghị quyết số 29/2025/NQ-HĐND quy định chính sách hỗ trợ chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và CĐS trong doanh nghiệp, hợp tác xã; Nghị quyết số 44/2025/NQ-HĐND hỗ trợ đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ với mức hỗ trợ đến 60 triệu đồng/đơn ở nước ngoài.

Điểm đáng chú ý là các chính sách đang hướng mạnh hơn vào khâu ứng dụng và thương mại hóa. Mục tiêu đến năm 2030, Vĩnh Long phấn đấu có 40% doanh nghiệp đang hoạt động có hoạt động ĐMST, phát triển từ 14 doanh nghiệp khoa học và công nghệ hiện nay lên 30 doanh nghiệp; đồng thời phấn đấu 80% kết quả nghiên cứu khoa học sau nghiệm thu được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh định hướng xây dựng Trung tâm ĐMST và CĐS đáp ứng tiêu chí trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp quốc gia; kết nối các cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật và không gian làm việc chung của các trường đại học trên địa bàn. Cùng với đó, Trung tâm Ứng dụng Khoa học Công nghệ tiếp tục duy trì và phát huy hiệu quả phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn ISO 17025:2017.

Mục tiêu không chỉ là hình thành thêm các thiết chế khoa học công nghệ, mà quan trọng hơn là tạo cầu nối giữa Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp, rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng và thương mại hóa.

Hạ tầng số và dữ liệu tạo nền tảng cho môi trường đầu tư mới

Nếu thể chế là điều kiện mở đường, hạ tầng số và dữ liệu đang trở thành nền móng cho phương thức quản trị và phát triển mới của Vĩnh Long.

Theo Sở Khoa học và Công nghệ, tỉnh đạt 97,15/100 điểm về chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính (TTHC), xếp hạng 1/34 tỉnh, thành phố trên cả nước; các chỉ số về công khai minh bạch, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán trực tuyến và mức độ hài lòng của người dân đều đạt 100%.

Vĩnh Long đã hoàn thành hợp nhất Trung tâm Tích hợp dữ liệu với 501 máy chủ, dung lượng 300TB, vận hành hơn 200 hệ thống phần mềm trên nền tảng điện toán đám mây và hợp nhất 12 hệ thống thông tin dùng chung. Hạ tầng viễn thông cũng được đầu tư mạnh với 1.014 trạm 5G đi vào hoạt động, phủ sóng 5G 100% khu công nghiệp; 100% xã, phường được phủ cáp quang và mạng 3G/4G.

Đáng chú ý, CĐS đã tạo ra những kết quả cụ thể trong cải cách TTHC. Tỉnh công bố 1.884 dịch vụ công trực tuyến, 100% TTHC được thực hiện không phụ thuộc địa giới hành chính; tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến đạt 99,56%, trong khi tỷ lệ số hóa hồ sơ và cấp kết quả bản điện tử đạt 99,96%.

Những con số này cho thấy CĐS không còn đơn thuần là câu chuyện ứng dụng công nghệ. Khi thủ tục được số hóa, dữ liệu được kết nối và dịch vụ công được cung cấp trực tuyến, doanh nghiệp và nhà đầu tư có thêm điều kiện giảm chi phí giao dịch, tiết kiệm thời gian và tiếp cận môi trường quản trị minh bạch hơn.

Thời gian tới, Vĩnh Long tiếp tục nâng cao hiệu quả kho dữ liệu dùng chung, cổng dữ liệu mở; thúc đẩy CĐS trong doanh nghiệp, tăng cường ứng dụng AI, Big Data, Cloud và đào tạo kỹ năng số.

Biến tài sản trí tuệ thành lợi thế cạnh tranh

Một điểm nhấn khác trong chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của Vĩnh Long là đưa tài sản trí tuệ trở thành công cụ nâng cao giá trị sản phẩm và thương hiệu doanh nghiệp.

Tỉnh đã xây dựng và vận hành Không gian thương hiệu và công nghệ tỉnh Vĩnh Long, gồm cả không gian vật lý và không gian ảo. Không gian vật lý hiện quy tụ 598 doanh nghiệp tiêu biểu, trưng bày 1.034 sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương, đồng thời giới thiệu 259 giải pháp công nghệ tiên tiến.

Toàn tỉnh hiện có 5.840 văn bằng bảo hộ, gồm 11 chỉ dẫn địa lý, 24 sáng chế, 301 kiểu dáng công nghiệp, 27 giải pháp hữu ích và 5.477 nhãn hiệu. Trong đó, có 134 nhãn hiệu tập thể và 32 nhãn hiệu chứng nhận. Đáng chú ý, bưởi da xanh và dừa xiêm xanh đã có 2 nhãn hiệu chứng nhận được bảo hộ tại Canada.

Những kết quả này cho thấy việc phát triển tài sản trí tuệ đang từng bước vượt ra khỏi phạm vi bảo hộ pháp lý, hướng tới mục tiêu nâng cao khả năng nhận diện, giá trị thương mại và sức cạnh tranh của sản phẩm.

Cùng với đó, Vĩnh Long tiếp tục triển khai các chương trình hỗ trợ sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP, sản phẩm có khả năng xuất khẩu và các sản phẩm ứng dụng ĐMST; tăng cường giới thiệu, xúc tiến thương mại thông qua Techmart, Techdemo, Techfest và các triển lãm trong nước.

Hiện tỉnh có 14 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, trong đó 3 doanh nghiệp đã trích lập Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ với tổng kinh phí hơn 40 tỷ đồng. Mục tiêu đến năm 2030 là phát triển 30 doanh nghiệp khoa học và công nghệ và nâng tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động ĐMST lên 40%.

Từ những nền tảng đang được tạo dựng, Vĩnh Long đang từng bước định hình mô hình phát triển mới, trong đó khoa học công nghệ là động lực, dữ liệu là nền tảng và doanh nghiệp là trung tâm của quá trình ĐMST.

PV