Kinh tế địa phương

Kinh tế địa phương

Khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng hai con số

NK 07/09/2026 10:52

Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số đòi hỏi Vĩnh Long phải đồng thời khơi thông nguồn lực đầu tư, phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công và nâng cao chất lượng thu hút đầu tư. Xung quanh những định hướng và giải pháp này, ông Trương Đặng Vĩnh Phúc, Giám đốc Sở Tài chính tỉnh đã có cuộc trao đổi với Vietnam Business Forum.

Trương Đặng Vĩnh Phúc

Trước yêu cầu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030, Vĩnh Long sẽ cơ cấu lại đầu tư công như thế nào để phát huy vai trò "vốn mồi", khơi thông nguồn lực xã hội và tạo dư địa tăng trưởng mới?

Giai đoạn 2026 - 2030, đầu tư công được bố trí theo hướng trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ; ưu tiên các dự án tạo động lực tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư, gắn với Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Trọng tâm của kế hoạch đầu tư công trung hạn là các dự án giao thông liên vùng, kết nối cao tốc, quốc lộ, đường tỉnh, khu kinh tế, khu, cụm công nghiệp và các trục phát triển đô thị. Các công trình ưu tiên gồm: đường ven biển, cầu Cổ Chiên 2, cầu Cửa Đại, cầu Đình Khao,… cùng các tuyến giao thông phục vụ Khu kinh tế Định An và nâng cấp các tuyến quốc lộ, bảo đảm kết nối đồng bộ với hệ thống cao tốc và đường ven biển.

Giải ngân đầu tư công
Trọng tâm của kế hoạch đầu tư công trung hạn của tỉnh Vĩnh Long là các dự án giao thông liên vùng, kết nối cao tốc, quốc lộ, đường tỉnh, khu kinh tế, khu, cụm công nghiệp và các trục phát triển đô thị

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi, tập trung đầu tư các công trình liên vùng, hoàn thiện hệ thống thủy lợi thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống sạt lở, xâm nhập mặn và triều cường, bảo vệ sản xuất; phát triển giao thông nông thôn, nâng cao giá trị nông sản, thủy sản, thúc đẩy cơ cấu lại ngành. Đồng thời, ưu tiên các dự án phòng, chống thiên tai, bảo đảm an ninh nguồn nước và chuyển đổi xanh.

Bên cạnh đó, tỉnh ưu tiên các dự án khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW; các dự án giáo dục, đào tạo theo Nghị quyết số 71-NQ/TW nhằm hoàn thiện cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đào tạo; cùng các dự án y tế để nâng cấp trang thiết bị, cơ sở khám, chữa bệnh và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Giai đoạn 2026 - 2030, Vĩnh Long sẽ ưu tiên những ngành, lĩnh vực và không gian phát triển nào để thu hút có chọn lọc dòng vốn FDI, DDI, thưa ông?

Tỉnh thu hút đầu tư có chọn lọc, không chạy theo số lượng, ưu tiên các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và công nghệ số. Công nghiệp tập trung vào năng lượng tái tạo ven biển (điện gió ngoài khơi, điện mặt trời, hydrogen xanh), điện tử, công nghệ số phục vụ nông nghiệp thông minh và logistics, hướng tới trung tâm chế biến hiện đại của vùng. Nông nghiệp chuyển từ tăng sản lượng sang công nghệ cao, sinh thái, bền vững; phát triển các mô hình đa giá trị gắn với chế biến và chuỗi giá trị, nhất là trái cây, lúa gạo, thủy sản, dừa. Logistics, thương mại - dịch vụ là ngành động lực, phát triển đồng bộ logistics đường bộ, đường thủy, đường biển và hậu cần cảng; phấn đấu đến năm 2030 hình thành 03 trung tâm logistics kết nối các vùng sản xuất.

Quy hoạch mới tổ chức tỉnh thành 03 phân vùng. Vùng động lực phía Đông (Khu kinh tế Vĩnh Long), gồm các địa phương Duyên Hải, Long Hữu, Trường Long Hòa và Bình Đại, ưu tiên công nghiệp công nghệ cao, năng lượng sạch, logistics cảng biển và đô thị ven biển; định hướng hình thành Khu kinh tế tự do, tạo cực tăng trưởng chiến lược. Vùng Bắc sông Cổ Chiên phát triển công nghiệp chế biến gắn với nông nghiệp công nghệ cao, ưu tiên chế biến sâu nông sản, thủy sản. Vùng Nam sông Cổ Chiên phát triển hành lang đô thị - công nghiệp gắn với quốc lộ 1A và các tuyến cao tốc, thu hút thương mại, dịch vụ, tài chính - ngân hàng và đô thị.

Để hiện thực hóa quy hoạch, tỉnh dự kiến huy động khoảng 480.000 tỷ đồng vốn đầu tư giai đoạn 2026 - 2030; đồng thời đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông, cảng biển, hạ tầng số, tiếp tục cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thu hút hiệu quả các nhà đầu tư FDI, DDI chiến lược.

Sở Tài chính sẽ tham mưu xây dựng tiêu chí lựa chọn dự án và nhà đầu tư thế nào để chuyển từ thu hút theo số lượng sang chất lượng, hiệu quả?

Hiện Sở đang phối hợp các sở, ngành rà soát, thẩm định điều kiện, tiêu chí lựa chọn dự án, nhà đầu tư theo quy định của pháp luật về đất đai, xây dựng và lĩnh vực liên quan. Đối với các tiêu chí về hiệu quả sử dụng đất, đóng góp ngân sách, hàm lượng công nghệ, mức độ lan tỏa và khả năng tham gia chuỗi giá trị, hiện chưa có quy định cụ thể để lượng hóa, đánh giá.

Thời gian tới, Sở sẽ rà soát, tham mưu triển khai các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, cạnh tranh, gắn với kết quả thực hiện và cam kết của nhà đầu tư về công nghệ, nghiên cứu và phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.

Trước tình trạng một số dự án chậm triển khai, Sở đang tham mưu thế nào để giám sát tiến độ, ràng buộc trách nhiệm nhà đầu tư và nâng cao hiệu quả thực hiện dự án?

Sở đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 175/KH-UBND ngày 08/5/2026 về kiểm tra, giám sát, đánh giá đầu tư các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài đầu tư công trên địa bàn. Theo đó, Sở phối hợp các sở, ngành giám sát 50 dự án; Ban Quản lý Khu kinh tế triển khai kế hoạch theo dõi, kiểm tra, giám sát các dự án trong KCN, KKT.

Để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư, Ban Chỉ đạo các dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách nhà nước đã thành lập 03 Tổ công tác rà soát, tham mưu UBND tỉnh xử lý các vướng mắc phát sinh. Qua rà soát 58 dự án, tỉnh đã tháo gỡ khó khăn cho 08 dự án, tổ chức làm việc, hướng dẫn 29 dự án; các dự án còn lại đang tiếp tục được xây dựng kế hoạch hỗ trợ.

Đối với 22 dự án khó khăn, vướng mắc được cập nhật trên Hệ thống 751 của Bộ Tài chính, Sở đã phối hợp các sở, ngành tham mưu UBND tỉnh xử lý; đến nay đã tháo gỡ 13 dự án, 09 dự án còn lại đang tiếp tục rà soát, tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết.

Thời gian tới, Sở tiếp tục tham mưu tổ chức các đoàn kiểm tra, khảo sát thực tế tại các dự án sản xuất, kinh doanh, năng lượng và khu đô thị nhằm kịp thời nhận diện, tháo gỡ khó khăn; đôn đốc nhà đầu tư thực hiện cam kết tiến độ, phối hợp với các sở, ngành, địa phương đẩy nhanh triển khai, sớm đưa dự án vào hoạt động.

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt, Vĩnh Long sẽ đổi mới xúc tiến đầu tư như thế nào để thu hút dòng vốn chất lượng cao vào các ngành ưu tiên và nhà đầu tư chiến lược?

Sở đã phối hợp các sở, ngành tham mưu UBND tỉnh đổi mới mạnh mẽ công tác xúc tiến đầu tư, chuyển từ "thụ động, dàn trải" sang "chủ động, trọng tâm, trọng điểm", lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.

Tỉnh đã công khai danh mục thu hút đầu tư với 153 dự án, trong đó lựa chọn 78 dự án trọng điểm giai đoạn 2025 - 2030. Thông tin về quy mô, vị trí, quy hoạch sử dụng đất và hình thức lựa chọn nhà đầu tư được chuẩn hóa, minh bạch, giúp nhà đầu tư rút ngắn thời gian nghiên cứu, khảo sát và ra quyết định.

Cùng với đó, đổi mới phương thức xúc tiến, tập trung tiếp cận các tập đoàn và nhà đầu tư chiến lược có tiềm lực tài chính, công nghệ cao từ Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc...; xây dựng nội dung xúc tiến theo từng nhóm ngành, gắn với lợi thế và định hướng phát triển như năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và nông nghiệp bền vững,…

Song hành với xúc tiến, tỉnh tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng các chỉ số PCI, PAPI, SIPAS; cắt giảm thủ tục, tăng trách nhiệm giải trình, chuyển mạnh từ tư duy "quản lý" sang "phục vụ"; chủ động tháo gỡ các điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư để dự án triển khai nhanh, hiệu quả.

Trân trọng cảm ơn ông!

NK