Doanh nhân -Doanh nghiệp

Doanh nhân -Doanh nghiệp

VDB nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng sức lan tỏa của nguồn vốn phát triển

PV 24/08/2026 11:26

Sau hai thập kỷ hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nhiều dự án trọng điểm, góp phần phát triển kết cấu hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Trong giai đoạn mới, nâng cao hiệu quả hoạt động, củng cố năng lực tài chính và tăng khả năng huy động nguồn lực là những yêu cầu đặt ra đối với ngân hàng.

VDB được thành lập năm 2006 trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển, thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Theo quy định hiện hành, VDB là ngân hàng chính sách do Thủ tướng Chính phủ thành lập, Nhà nước là chủ sở hữu.

img_20260820_102205.jpg
Nguồn vốn tín dụng của VDB góp phần hình thành nên nhiều dự án năng lượng và kết cấu hạ tầng trọng điểm quốc gia. Nguồn: VDB

Theo PGS.TS Trần Việt Dũng và Nhóm nghiên cứu Ban Chiến lược VDB, hiệu quả hoạt động của một ngân hàng phát triển cần được nhìn nhận trên cả hai phương diện: hiệu quả phát triển và hiệu quả tài chính - vận hành. Với đặc thù hoạt động, ngân hàng phát triển có vai trò bổ sung cho thị trường tài chính, nhất là trong cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho những lĩnh vực mà khu vực tư nhân còn hạn chế tham gia do rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài hoặc khả năng sinh lời chưa đủ hấp dẫn.

Trong giai đoạn 2006-2025, tổng vốn tín dụng do VDB giải ngân tương đương khoảng 5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và 2% GDP. VDB cũng là một trong những tổ chức phát hành trái phiếu lớn của nền kinh tế, từng chiếm khoảng 20-25% thị phần công cụ nợ. Nguồn vốn huy động qua trái phiếu đóng góp khoảng 3,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và 1,3% GDP.

Nguồn vốn tín dụng của VDB chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sản xuất và kết cấu hạ tầng. Tỷ trọng tín dụng dành cho công nghiệp và xây dựng duy trì bình quân trên 70% tổng dư nợ. Ngân hàng đã tham gia tài trợ hơn 100 dự án trọng điểm nhóm A trên phạm vi cả nước, tập trung vào các lĩnh vực như điện, xi măng, thép, giấy, phân bón, chế biến cao su, cơ khí và viễn thông.

img_20260820_102213.jpg
Một công trình đường giao thông nông thôn do Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) hỗ trợ xây dựng, góp phần cải thiện hạ tầng tại các khu vực còn khó khăn. Nguồn: VDB

Bên cạnh đó, nguồn vốn của VDB được phân bổ cho nhiều dự án năng lượng, giao thông, nông nghiệp, giáo dục, y tế, cấp nước sạch, xử lý môi trường và nhà ở xã hội. Một số công trình như thủy điện Sơn La, thủy điện Lai Châu, Điện gió Bạc Liêu, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, cao tốc Bến Lức - Long Thành và hệ thống truyền tải điện được nghiên cứu đề cập như những dự án có sự tham gia của nguồn vốn VDB. Qua đó, tín dụng đầu tư của Nhà nước góp phần bổ sung năng lực sản xuất, hoàn thiện hạ tầng và tạo hiệu ứng lan tỏa đối với nền kinh tế.

Tuy nhiên, quá trình hoạt động cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục cơ cấu lại nguồn lực và nâng cao hiệu quả vận hành. Số chi nhánh của VDB giảm từ 44 xuống 29, số đầu mối tại Trụ sở chính từ 24 xuống 14 và số lao động từ 2.790 xuống 1.848 người. Trong cùng giai đoạn, vốn huy động giảm 50,4%, vốn ủy thác giảm 36% và vốn ODA ủy thác giảm 35,8%. Trong khi đó, vốn chủ sở hữu tăng từ 16.634 tỷ đồng năm 2016 lên 19.853 tỷ đồng năm 2025, tương đương mức tăng 19,4%.

Từ thực tế này, PGS.TS Trần Việt Dũng và Nhóm nghiên cứu Ban Chiến lược VDB đề xuất ngân hàng tiếp tục củng cố năng lực tài chính, đa dạng hóa nguồn vốn, nâng cao chất lượng tín dụng, tăng cường quản trị rủi ro và đẩy nhanh xử lý nợ. Nguồn lực cũng cần được ưu tiên cho những lĩnh vực có tác động phát triển lớn, phù hợp với yêu cầu về hạ tầng chiến lược, tăng trưởng xanh, chuyển đổi số và phát triển bền vững.

Một hướng được đề cập là áp dụng cơ chế tài chính kết hợp (blended finance), theo đó nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế được kết hợp với vốn thương mại từ khu vực tư nhân. Cách tiếp cận này có thể mở rộng quy mô đầu tư và tạo thêm động lực để khu vực tư nhân tham gia các dự án có mức độ rủi ro cao nhưng mang lại lợi ích công lớn, như hạ tầng, giáo dục, năng lượng tái tạo và môi trường.

Cùng với đó, yêu cầu về minh bạch và trách nhiệm giải trình cần được tăng cường; quản trị rủi ro từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế về báo cáo tài chính, an toàn vốn và đánh giá hiệu quả phát triển. Đối với một ngân hàng phát triển, hiệu quả không chỉ được đo bằng các chỉ tiêu tài chính mà còn cần phản ánh qua tác động xã hội, hiệu quả môi trường và mức độ lan tỏa của nguồn vốn đối với nền kinh tế.

Về phát triển bền vững, PGS.TS Trần Việt Dũng và Nhóm nghiên cứu Ban Chiến lược VDB đề xuất ngân hàng ưu tiên các dự án giảm phát thải, năng lượng sạch, chuyển đổi xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển tại các khu vực còn khó khăn. Đây là hướng chuyển từ mô hình “tài chính phát triển truyền thống” sang “tài chính phát triển bền vững”, phù hợp với yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho tăng trưởng dài hạn.

Trong giai đoạn tới, VDB xác định ba trọng tâm gồm củng cố năng lực tài chính và đa dạng hóa nguồn vốn; nâng cao chất lượng tín dụng, quản trị rủi ro và xử lý nợ; đồng thời lựa chọn các lĩnh vực ưu tiên có tác động phát triển lớn, gắn với hạ tầng chiến lược, tăng trưởng xanh, chuyển đổi số và phát triển bền vững.

Theo đó, yêu cầu đặt ra đối với VDB là tiếp tục đổi mới, hiện đại hóa hoạt động và nâng cao năng lực quản trị, đồng thời tăng cường năng lực tài chính, tính tự chủ và khả năng huy động nguồn lực. Việc vận hành theo các nguyên tắc thị trường gắn với bảo đảm an toàn, hiệu quả và bền vững tài chính sẽ là cơ sở để ngân hàng thực hiện tốt hơn vai trò cung ứng tín dụng đầu tư của Nhà nước, tập trung nguồn lực cho các dự án hạ tầng trọng điểm, ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn khó khăn.

PV