Kinh tế số

Kinh tế số

Khoa học, công nghệ tạo nền tảng để Việt Nam làm chủ không gian biển

Duy Hưng 21/08/2026 16:31

Tại Hội thảo về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong triển khai Nghị quyết 20-NQ/TW, Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ nghiên cứu, khai thác biển sang từng bước làm chủ tri thức, dữ liệu, công nghệ và không gian phát triển biển.

1787279711763_3716919735075246291_g4188694663970729319_6aa2aea4fed21c9246009d416d534d73.jpg
Bộ trưởng Bộ KHCN Vũ Hải Quân phát biểu chỉ đạo tại hội thảo

Ngày 21/8, tại Nha Trang, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”.

Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho rằng Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 đặt ra yêu cầu mới đối với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo đó, Việt Nam không chỉ nghiên cứu và khai thác biển mà phải từng bước làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, khoa học và công nghệ cần trở thành nền tảng của quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia; phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, số và bền vững; đồng thời góp phần bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế của Việt Nam trong quản trị biển, đại dương khu vực và quốc tế.

Một trong những trọng tâm được đặt ra là xây dựng năng lực nghiên cứu biển mạnh, có trọng tâm và khả năng dẫn dắt. Mục tiêu hình thành từ 2-3 tổ chức nghiên cứu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển đạt trình độ các nước dẫn đầu ASEAN được xác định không đơn thuần là chỉ tiêu về số lượng, mà là chỉ tiêu về năng lực quốc gia.

Các tổ chức này được kỳ vọng trở thành hạt nhân của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển, có khả năng tập hợp đội ngũ chuyên gia, sở hữu hạ tầng nghiên cứu hiện đại, làm chủ dữ liệu và công nghệ, đồng thời giải quyết những bài toán lớn của quốc gia và tham gia mạng lưới nghiên cứu quốc tế.

Một yêu cầu khác được nhấn mạnh là coi dữ liệu biển như một loại hạ tầng chiến lược của quốc gia. Quản trị biển hiện đại cần dựa trên dữ liệu và bằng chứng khoa học, với hệ thống dữ liệu thống nhất, liên thông, cập nhật và an toàn.

Theo đó, cần kết nối dữ liệu điều tra cơ bản, quan trắc, môi trường, tài nguyên, hạ tầng và các hoạt động kinh tế - xã hội trên biển; phát triển bản đồ số biển và đại dương, các công cụ mô hình hóa, dự báo và trí tuệ nhân tạo phục vụ quản lý, quy hoạch, cảnh báo và ra quyết định.

Cùng với đó là yêu cầu chuyển mạnh từ “ứng dụng công nghệ” sang “làm chủ công nghệ”. Các lĩnh vực được lưu ý gồm quan trắc, giám sát và dự báo biển; khảo sát đáy biển và biển sâu; robot biển, phương tiện không người lái; công trình biển và năng lượng ngoài khơi; công nghệ môi trường biển; nuôi biển công nghiệp; công nghệ sinh học biển và các công nghệ lưỡng dụng.

Đáng chú ý, Bộ Khoa học và Công nghệ đặt doanh nghiệp và địa phương vào vị trí quan trọng trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo biển. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xác định bài toán, đặt hàng, đồng tài trợ, thử nghiệm, kiểm chứng đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Từ góc độ tổ chức nhiệm vụ, định hướng được đưa ra là chuyển sang các bài toán lớn, liên ngành, liên vùng, có sản phẩm đầu ra rõ ràng; gắn nghiên cứu cơ bản với điều tra cơ bản, dữ liệu, công nghệ, đào tạo nhân lực và nhu cầu của doanh nghiệp.

Tại Hội thảo, Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị tập trung lựa chọn các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số biển trọng điểm giai đoạn 2026-2030; xác định mô hình 2-3 tổ chức nghiên cứu biển mạnh; xây dựng mô hình quản trị dữ liệu biển quốc gia; lựa chọn các công nghệ biển, đại dương và công nghệ lưỡng dụng ưu tiên làm chủ đến năm 2030. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế huy động nguồn lực giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, địa phương và đối tác quốc tế, nhất là cơ chế đặt hàng nhiệm vụ lớn, đồng tài trợ, thử nghiệm, chia sẻ rủi ro và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Duy Hưng