Văn hóa - Du lịch
Giữ nhịp đập di sản: Hành trình kiến tạo không gian, kết nối văn hóa
Vượt ra khỏi mô hình trưng bày truyền thống, Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang đang chuyển mình thành một không gian trải nghiệm văn hóa đa chiều, nơi người xem không chỉ đứng nhìn mà được trực tiếp chạm vào lịch sử. Sự đổi mới này không đơn thuần là thay đổi cách thức trưng bày, mà là một hành trình đầy nhân văn nhằm đưa những giá trị cội nguồn trở về đúng vị thế, để quá khứ tiếp tục đồng hành cùng hiện tại.
.jpg)
Hành trình vượt khó giữ linh hồn của các bản làng
Một làn điệu thưa người hát, một nghi lễ vắng người thực hành hay một thầy cúng qua đời có thể mang theo cả hệ tri thức bản địa. Với cộng đồng Tày, Dao, Nùng, Mông, Cao Lan, Pà Thẻn…, nhiều di sản rút khỏi đời sống bằng những khoảng lặng khó nhận ra.
Áp lực của bảo tàng địa phương là nhận diện kịp những gì đang mất. Ngay từ năm 2011, Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành công tác kiểm kê di sản phi vật thể, thuộc nhóm đi đầu cả nước. Ông Lý Mạnh Thắng, Giám đốc Bảo tàng cho biết: “Muốn bảo tồn, trước hết phải biết di sản đang sống trong cộng đồng thế nào. Chúng tôi không xuống cơ sở rồi mới bắt đầu hỏi. Bảo tàng kết nối trước để lập danh mục, sau đó mới đánh giá cái gì còn, mất, hay cần khôi phục. Làm vậy vừa nhanh, vừa sát với đời sống thật của di sản”.
Cách làm này lật lại bản chất kiểm kê: không “đếm” di sản, mà đọc trạng thái sống của nó. Phân biệt một làn điệu chỉ còn tên gọi với một làn điệu vẫn được hát trong lễ hội giúp bảo tồn tránh ghi chép hình thức hoặc phục dựng cảm tính.
Hiện nay, Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang đang bảo quản 21.500 - 23.000 hiện vật, với 14.000 hiện vật gốc; xây dựng 11 bộ sưu tập chuyên đề. Đồng thời, quản lý hơn 370/560 di tích toàn tỉnh, bao gồm 93 di tích quốc gia. Ở mảng phi vật thể, khoảng 50 di sản được công nhận cấp quốc gia như hát Then, Lượn (Tày), Sình ca (Cao Lan), Páo dung (Dao), Shí lường (Nùng), Nhảy lửa (Pà Thẻn), khèn Mông (Mông).
Nhìn từ góc độ quản trị, đó là một bộ lọc dữ liệu bài bản. Bảo tàng không gom hiện vật để lấp đầy kho; họ thiết lập nền dữ liệu giúp địa phương biết mình có gì, ưu tiên gì và lấy gì làm điểm tựa cho giáo dục, du lịch. Trong bối cảnh di sản dễ bị thương mại hóa hoặc sân khấu hóa sai lệch, năng lực định chuẩn ấy rất quan trọng.
.jpg)
Khi hiện vật trở thành nhịp cầu kết nối lịch sử với hôm nay
Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang xem thuyết minh viên là “người mở khóa” ký ức. Cùng một hiện vật, nếu biết dẫn từ chi tiết nhỏ đến câu chuyện lớn, nó có thể mở ra một lớp lịch sử. Hướng dẫn viên được bồi dưỡng để ứng biến theo từng nhóm khách. Hoạt động thuyết minh cũng được số hóa linh hoạt, tích hợp hiệu ứng 3D, âm thanh, ánh sáng; công nghệ không thay thế con người, mà giảm lối truyền đạt một chiều.
Ông Lý Mạnh Thắng - Giám đốc Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh: “Một hiện vật đặt sau tủ kính kèm vài dòng chú thích rất dễ “đứng yên”. Bảo tàng phải làm hiện vật biết kể chuyện. Công nghệ chỉ là phương tiện; cốt lõi là khiến người xem dừng lại lâu hơn, hiểu sâu hơn và thấy lịch sử có liên quan đến mình”.
Không gian vật lý hơn 18.300m2 tại trung tâm thành phố được tái cấu trúc theo hướng mở. Bảo tàng đưa tư liệu ra ngoài qua các triển lãm lưu động gắn với Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào. Bên trong, công nghệ được dùng để tăng sức gợi, giữ sự tập trung và tạo nhịp cho không gian trưng bày.
Bước chuyển sâu hơn là biến bảo tàng thành giảng đường thực hành. Học sinh mô phỏng khai quật khảo cổ; thao tác cối giã gạo; tự tay nặn bánh chim gâu của người Cao Lan hay chạm vào kỹ thuật thêu dệt. Tri thức không còn nằm yên trên bảng chú thích, mà đi qua tay, mắt và cảm xúc.
Từ góc độ giáo dục, bảo tàng vì thế trở thành một lớp học mở. Học sinh không chỉ nghe kể về lịch sử địa phương, những trải nghiệm giúp tri thức di sản đi vào nhận thức bằng cảm giác trực tiếp, tự nhiên và bền hơn.
.jpg)
Kết nối mạch nguồn văn hóa trong đời sống đương đại
Ở Tuyên Quang, tác động ấy đã hiện rõ. Trước đây, nhiều làn điệu chỉ còn trong ký ức người già hoặc sách cúng. Khi được định danh và công nhận, một cơ chế phục hồi tự nhiên hình thành. Tại các đình làng, câu lạc bộ văn hóa hoạt động sôi nổi. Nhóm hát Páo dung, Sình ca không diễn như “tiết mục minh họa”, mà hát bằng niềm tự hào cộng đồng.
“Giá trị lớn nhất của việc lập hồ sơ không phải là thêm danh hiệu, mà làm cộng đồng nhận ra đó là tài sản của họ. Có làn điệu ít người hát, nhưng khi được ghi nhận, các thôn bản tự hào phục hồi, truyền dạy. Khi người dân tự hát, tự giữ, tự thấy mình là chủ nhân, đó mới là bảo tồn bền vững”, ông Thắng khẳng định.
Đây là tác động đáng giá nhất. Bảo tàng đi về cơ sở chuẩn hóa tri thức, rồi dùng sự định danh ấy trả di sản về với vị thế mới. Người dân hát trong ý thức dân tộc; nghệ nhân truyền dạy trong hệ sinh thái được tôn vinh; chính quyền có căn cứ xây dựng văn hóa. Du lịch văn hóa vì thế có nền móng lành mạnh: cộng đồng thực hành cho mình trước, rồi mới chia sẻ với du khách.
Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang vì thế mang vị thế nhiều lớp: nơi lưu giữ, trung tâm dữ liệu, không gian giáo dục và cầu nối cộng đồng. Cốt lõi của đổi mới là thay đổi quan niệm: bảo tồn không đóng kín, mà tạo điều kiện để di sản tiếp tục sống.
Sự “tự hồi sinh” của văn hóa tại các thôn bản chứng minh: bảo tồn bền vững nhất không phải là khóa chặt hiện vật trong phòng “vô trùng”, mà là trao lại niềm kiêu hãnh và không gian thực hành cho chính chủ nhân di sản.
Và khi di sản còn được hát lên, chạm vào, trao truyền qua tay người trẻ, được cộng đồng tự nhận là của mình, lịch sử không nằm sau lồng kính: Nó tiếp tục sống.