Kinh tế địa phương
Tuyên Quang: Định hình không gian phát triển, định vị động lực tăng trưởng
Sáp nhập mở ra cho Tuyên Quang không gian phát triển rộng lớn hơn, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực quản trị và tổ chức nguồn lực. Với mục tiêu tăng trưởng GRDP 10,17% trong năm 2026, khi kết quả 6 tháng đầu năm vẫn thấp hơn kỳ vọng, bài toán không chỉ là tăng tốc, mà là tái cấu trúc các động lực tăng trưởng, cải thiện môi trường đầu tư và khơi thông các nguồn lực để chuyển hóa dư địa mới thành tăng trưởng thực chất.

Từ giữ nhịp đến tạo lực tăng trưởng
Năm 2025, Tuyên Quang khép lại với GRDP (theo giá so sánh 2010) tăng 6,4%. Mặc dù chưa đạt mục tiêu Chính phủ giao, song trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức, kết quả này đã phản ánh sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh. Điểm sáng nổi bật đóng góp vào đà tăng trưởng này là tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đã đạt mức 7,39%. Năm 2026, mục tiêu tăng trưởng 10,17% là phép thử đối với năng lực vận hành trong không gian mới. Tuy nhiên, sau 6 tháng đầu năm, GRDP ước tăng 7,72%, thấp hơn kịch bản. Nền kinh tế vẫn giữ nhịp nhưng chưa đủ lực để tiến vào quỹ đạo tăng trưởng hai con số.
Vấn đề cốt lõi không nằm ở vài chỉ tiêu chậm, mà ở khả năng kích hoạt động lực có sức lan tỏa lớn hơn. Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng song dư địa tăng tốc không còn nhiều. Công nghiệp và dịch vụ có khả năng tạo đột phá, nhưng chưa đạt kỳ vọng. Điều đó đòi hỏi Tuyên Quang phải chủ động tạo lực tăng trưởng.

Sáp nhập mở rộng quy mô địa lý, nhưng quy mô tự nó không sinh ra tăng trưởng. “Không gian phát triển mới chỉ có ý nghĩa khi được tổ chức thành động lực phát triển mới. Tuyên Quang không đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số bằng quán tính, mà bằng việc lựa chọn đúng cực động lực, ưu tiên đúng dự án và điều phối nguồn lực đủ tập trung để tạo ra sức bật thực chất cho nền kinh tế”, ông Phan Huy Ngọc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh.
Thông điệp này cũng cho thấy mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là nhiệm vụ của một năm, mà là yêu cầu đổi mới mô hình phát triển trong giai đoạn mới. Tăng trưởng cần được dẫn dắt bởi hệ thống hạ tầng, môi trường đầu tư, cải cách hành chính và năng lực tổ chức thực thi. 6 tháng cuối năm 2026 vì thế là lúc kiểm chứng khả năng chuyển hóa không gian mới thành động lực mới.
Tổ chức lại không gian, chuẩn bị cho chu kỳ bứt phá
Điểm đáng chú ý trong điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là cách tổ chức lại không gian trên địa giới mới. Thách thức sau sáp nhập là quản trị địa bàn rộng mà không để nguồn lực bị “loãng”.
Quy hoạch điều chỉnh đã xác lập một trục động lực, hai cực tăng trưởng và ba vùng kinh tế. Trục động lực kéo dài từ Khu kinh tế Cửa khẩu Thanh Thủy đến cao tốc Nội Bài - Lào Cai được xác định là hành lang kinh tế kết nối hàng hóa, du lịch, logistics, công nghiệp và dịch vụ.
Hai cực tăng trưởng được “phân vai” rành mạch. Phía Bắc lấy kinh tế cửa khẩu và du lịch làm động lực, phát huy lợi thế biên giới, cảnh quan, văn hóa. Phía Nam tập trung phát triển đô thị, công nghiệp và dịch vụ, gắn với các khu, cụm công nghiệp và không gian sản xuất mới.
Cách tổ chức này cho thấy Tuyên Quang đang chuyển dịch từ tư duy phát triển theo địa giới hành chính sang chức năng kinh tế. Quy mô chỉ thành lợi thế khi từng khu vực được đặt đúng vai, đúng ngành và đúng dòng vốn.
Trong cạnh tranh thu hút đầu tư, mỗi không gian phải có lợi thế rõ ràng để tạo sức hấp dẫn riêng đồng thời tránh tình trạng đầu tư dàn trải. Công nghiệp cần quỹ đất sạch, hạ tầng kỹ thuật đồng bộ như điện, nước, logistics và thủ tục hành chính thông thoáng; du lịch cần cảnh quan, bản sắc, hạ tầng tiếp cận; kinh tế cửa khẩu đòi hỏi năng lực thông quan, kho bãi, liên kết vận tải hiệu quả; đô thị cần quy hoạch đất đai minh bạch. Khi các cực được định vị rành mạch, mỗi khu vực có thể trở thành một “nam châm” chuyên biệt, qua đó sẽ tạo cấu trúc tăng trưởng cân bằng giữa bản sắc vùng cao và dư địa công nghiệp - đô thị.
Để các cực tăng trưởng sớm phát huy hiệu quả, Tuyên Quang đang dồn lực cho các ngành kinh tế trọng điểm và giải ngân đầu tư công. 6 tháng đầu năm 2026, tỷ lệ giải ngân đầu tư công đạt 30,4%, cao hơn bình quân cả nước. Dòng vốn này không chỉ khơi thông các dự án hạ tầng nghìn tỷ mà còn hòa nhịp cùng các chương trình mục tiêu quốc gia, bảo đảm phát triển kinh tế gắn liền với an sinh xã hội vững chắc.
Hạ tầng đi trước, thể chế mở đường
Giai đoạn 2026 - 2030, Tuyên Quang đặt mục tiêu thu hút đầu tư khoảng 150 dự án mới, tổng vốn tăng thêm 70.000 - 75.000 tỷ đồng, trong đó phấn đấu thu hút ít nhất 3 doanh nghiệp thuộc Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam đầu tư dự án mới tại tỉnh. Mục tiêu trên đặt ra yêu cầu cao hơn đối với địa phương về năng lực chuẩn bị quỹ đất, phát triển hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính và chất lượng đồng hành cùng nhà đầu tư.
Cụ thể, hạ tầng giao thông tiếp tục được xác định là nền tảng quan trọng. Tuyến cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang đang được tập trung thi công không chỉ để rút ngắn thời gian di chuyển, mà còn thay đổi cách nhìn về vị trí kinh tế của tỉnh. Tuyến giao thông chiến lược sẽ giúp giảm chi phí logistics, mở thêm dư địa cho phát triển du lịch, tăng sức hút của các khu công nghiệp.
Nếu hạ tầng cứng là điều kiện cần, thì điều kiện đủ nằm ở “hạ tầng mềm” là chất lượng điều hành và môi trường đầu tư kinh doanh. Trong đó, đảm bảo thủ tục được giải quyết nhanh, trách nhiệm được xác định rõ, dữ liệu minh bạch và tính nhất quán của bộ máy. Tuyên Quang đặt mục tiêu 100% thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, doanh nghiệp đủ điều kiện được cung cấp trực tuyến mức độ cao; duy trì chỉ số PAR INDEX trên 88%.
Đặc biệt, chuyển đổi số đang trở thành một công cụ đắc lực để Tuyên Quang bứt phá. Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh hiện đã được kết nối với 24 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành. Tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu số hóa đạt tới 96,71%, giúp minh bạch hóa quy trình và tiết kiệm tối đa thời gian cho doanh nghiệp. Năm 2026, tỉnh đang quyết tâm nâng tỷ trọng kinh tế số trong GRDP đạt 7,71%, qua đó khẳng định sự sẵn sàng ở mức cao nhất để đón các dòng vốn lớn.
“Thu hút đầu tư không dừng ở việc giới thiệu tiềm năng. Điều nhà đầu tư cần là hạ tầng có tiến độ rõ, quỹ đất sạch, thủ tục minh bạch và một bộ máy đủ trách nhiệm để đồng hành đến cùng. Khi thể chế thực sự mở đường, các trục động lực trên quy hoạch mới có thể chuyển hóa thành dự án, nguồn thu và việc làm cụ thể”, ông Phan Huy Ngọc cho biết.
Với tầm nhìn phát triển mới sau sáp nhập, Tuyên Quang đang gửi tới cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư một thông điệp rõ ràng: tỉnh không chỉ có tiềm năng, mà đang chuẩn bị các điều kiện thực chất để tiềm năng ấy trở thành cơ hội đầu tư cụ thể. Từ quy hoạch không gian, phát triển hạ tầng, chuẩn bị quỹ đất đến cải cách thủ tục hành chính, tỉnh xác định đồng hành cùng doanh nghiệp là trọng tâm trong xây dựng môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, hiệu quả.
Không gian rộng hơn mở ra cho Tuyên Quang thêm dư địa phát huy lợi thế về cửa khẩu, du lịch, công nghiệp, đô thị và dịch vụ. Cùng với đó, hạ tầng từng bước được kết nối, quỹ đất được rà soát, thủ tục được số hóa, trách nhiệm giải quyết công việc được đặt rõ hơn ở từng cấp, từng ngành. Đây là nền tảng để tỉnh chào đón các nhà đầu tư có năng lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và cam kết phát triển bền vững.
Tuyên Quang hướng tới những dự án có chất lượng, sử dụng hiệu quả nguồn lực, đóng góp cho ngân sách, tạo việc làm và nâng cao vị thế địa phương. Khi hạ tầng được khơi thông, thể chế tiếp tục được cải thiện và cam kết đồng hành với doanh nghiệp được chuyển hóa thành từng dự án cụ thể, lợi thế sau sáp nhập sẽ trở thành nguồn lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng để tỉnh phát triển nhanh, toàn diện và bền vững.