Điểm đến
Bảo tàng Đà Nẵng: Từ “địa chỉ lưu giữ ký ức” đến biểu tượng mới của công nghiệp văn hóa Việt Nam
Trong hành trình kiến tạo một đô thị biển hiện đại, đáng sống và mang tầm quốc tế, Đà Nẵng đang cho thấy một hướng đi khác biệt: đặt văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển bền vững.
Sự ra đời của Bảo tàng Đà Nẵng tại không gian di sản 42 Bạch Đằng không chỉ là câu chuyện của một công trình văn hóa, mà còn minh chứng cho tư duy quản trị đô thị mới - nơi di sản được “đánh thức” để trở thành động lực phát triển, nguồn lực mềm và biểu tượng bản sắc của thành phố bên sông Hàn.
.jpg)
Văn hóa đặt ở vị trí trung tâm
Ít có địa phương nào dành một khu “đất vàng” hơn 10.000m² ngay trung tâm đô thị ven sông để phát triển bảo tàng thay vì thương mại hóa. Quyết định ấy cho thấy: tầm nhìn chiến lược của tập thể Ban lãnh đạo TP.Đà Nẵng nhiệm kỳ 2020 - 2025 trong việc định vị văn hóa như một trụ cột phát triển mới của đô thị.
Trong định hướng phát triển đó, vai trò chỉ đạo quyết liệt, xuyên suốt của nguyên Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Văn Quảng được nhiều cán bộ ngành Văn hóa nhắc đến như một dấu ấn đặc biệt. Theo ông Huỳnh Đình Quốc Thiện - Giám đốc Bảo tàng Đà Nẵng, lãnh đạo thành phố không chỉ giao nhiệm vụ, mà còn đồng hành sát sao trong từng giai đoạn triển khai công trình.“Tuần nào, tháng nào lãnh đạo thành phố cũng dành thời gian trực tiếp đến công trình để kiểm tra, động viên đội ngũ thi công” - ông Thiện nhớ lại.

Không chỉ quyết tâm về mặt chủ trương, thành phố còn thể hiện tư duy đầu tư bài bản cho văn hóa. Trong thời điểm dịch Covid-19 căng thẳng, đội ngũ thi công bảo tàng được ưu tiên tiêm vaccine để duy trì tiến độ. Khi công trình đi vào vận hành, thành phố tiếp tục bố trí kinh phí hàng tỷ đồng để duy trì hoạt động trước khi Bảo tàng tự chủ được nguồn thu.
Cách làm trên cũng phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 43-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP.Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn 2045; đồng thời bám sát định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cũng như Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.

“Bảo tàng kiểu mới” mang tầm vóc quốc gia
Điều đặc biệt của Bảo tàng Đà Nẵng không chỉ nằm ở kiến trúc hay công nghệ, mà ở tư duy làm bảo tàng hoàn toàn mới.
Công trình được cải tạo trên nền Tòa Đốc lý cũ - một “hiện vật lịch sử” giữa lòng đô thị, với sự tham gia của kiến trúc sư nổi tiếng người Pháp Jean-François Milou, người từng thực hiện nhiều dự án bảo tàng đẳng cấp thế giới như Louvre hay Guimet. Tuy nhiên, điều khiến giới chuyên môn bất ngờ chính là phần linh hồn của công trình lại do chính đội ngũ Bảo tàng Đà Nẵng xây dựng. Hàng nghìn hiện vật, hình ảnh và câu chuyện lịch sử được nghiên cứu, chọn lọc, kết nối bằng phương pháp kể chuyện hiện đại, tích hợp công nghệ trình chiếu 3D Mapping, chatbot đa ngôn ngữ, thuyết minh tự động và không gian tương tác mở. Nhờ vậy, Bảo tàng Đà Nẵng đã nhận được sự đánh giá rất cao từ phía nhiều nhà sử học, chuyên gia bảo tàng học hàng đầu Việt Nam. Giáo sư Nguyễn Văn Kim, nhà sử học Lâm Quang Thỉnh, Dương Trung Quốc và các chuyên gia Đặng Văn Bài, Trương Quốc Bình,… đều bày tỏ bất ngờ trước cách tiếp cận mới của Bảo tàng Đà Nẵng và cho rằng đây là mô hình bảo tàng hiện đại hiếm có ở Việt Nam hiện nay.

Đặc biệt, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - người đã nhiều lần nhấn mạnh quan điểm “văn hóa còn thì dân tộc còn”, luôn được giới làm nghề văn hóa xem như nguồn cảm hứng lớn cho tư duy bảo tồn gắn với phát triển. Quan điểm đề cao văn hóa như nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh của phát triển đất nước cũng đang được Bảo tàng Đà Nẵng nỗ lực hiện thực hóa thông qua mô hình bảo tàng hiện đại, nhân văn và giàu chiều sâu lịch sử. Không ít lãnh đạo Trung ương, chuyên gia văn hóa khi đến tham quan đều nhìn nhận đây là một trong những bảo tàng có tính sáng tạo, hiện đại và giàu chiều sâu lịch sử hàng đầu cả nước hiện nay. Một chi tiết đặc biệt, chính kiến trúc sư Milou nhiều lần khẳng định: ông không nhận đây là công trình của riêng mình, mà là sản phẩm do tập thể những người làm Bảo tàng Đà Nẵng tạo ra.
Từ thiết chế văn hóa đến động lực tăng trưởng mới
Nếu trước đây bảo tàng thường được xem là không gian tĩnh, thì Bảo tàng Đà Nẵng đang vận hành theo mô hình “bảo tàng mở” - nơi văn hóa gắn trực tiếp với du lịch, sáng tạo và kinh tế ban đêm.
Chỉ trong hơn 4 tháng đầu năm 2026, hệ thống bảo tàng đã đón hơn 95.000 lượt khách, trong đó có hơn 36.000 khách quốc tế. Có ngày cao điểm lượng khách lên tới 7.000 lượt.
Đặc biệt, nguồn thu từ bán vé hiện đạt khoảng 7 - 8 tỷ đồng/năm, tạm đủ để đơn vị tự cân đối chi phí vận hành mà không còn phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách. Đây là điều hiếm thấy đối với một thiết chế bảo tàng công lập tại Việt Nam.
Không dừng ở đó, Bảo tàng còn đang từng bước tham gia trực tiếp vào hệ sinh thái công nghiệp văn hóa của Đà Nẵng thông qua tour du lịch đêm, không gian trình diễn nghệ thuật, giáo dục di sản, kết nối cộng đồng và phát triển sản phẩm văn hóa số.
Theo ông Huỳnh Đình Quốc Thiện, đích đến lớn nhất mà đội ngũ làm nghề hướng tới không phải là những lời khen, mà làm sao để người dân thấy tự hào về lịch sử và văn hóa của thành phố mình. “Làm bảo tàng là làm cách mạng. Đã làm cách mạng thì không được kể công”, ông Thiện chia sẻ.
Có lẽ chính tinh thần lặng thầm ấy đang giúp Bảo tàng Đà Nẵng vượt ra khỏi khuôn khổ của một nơi trưng bày hiện vật thông thường, để trở thành biểu tượng mới cho khát vọng phát triển bằng chiều sâu văn hóa của thành phố đáng sống bậc nhất Việt Nam.